Saturday, August 22, 2015

phổ độ và vô vi

Thánh ngôn:
"Ta vì lòng đại từ, đại bi, lấy đức háo sanh dựng nên nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Tôn chỉ là vớt kẻ hữu phần vào địa vị cao thượng để tránh khỏi luân hồi và nâng đỡ kẻ có tánh đức vào cõi an nhàn, cao hơn phẩm hèn khó ở cõi trần thế này".
Đạo Cao Đài được chia làm hai phần, phổ độ và vô vi để thích ứng với trình độ tâm linh của chúng sanh.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

"Ta vì lòng đại từ đại bi, lấy đức háo sanh dựng nên nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tôn chỉ là vớt kẻ hữu phần vào địa vị cao thượng để tránh khỏi luân hồi và nâng đỡ kẻ có tánh đức vào cõi an nhàn, cao hơn phẩm hèn khó ở cõi trần thế này".

Tam Kỳ Đại Đạo

Thầy phải lập Tam Kỳ Đại Đạo,
Rước nguyên nhân hườn đáo cựu ngôi,
Tiên thiên phẩm vị phục hồi,
Tránh nơi bến tục, xa mồi vinh hoa.
Thầy đã xin cùng Tòa Tam Giáo,
Lập Ngũ Chi Đại Đạo độ đời,
Ngũ Chi do gốc Phật Trời,
Minh Sư, Minh Thiện, Minh Đường, Minh Tân.
Thêm Minh Lý lãnh phần truyền đạo,
Ban sám kinh khuyên bảo tu hành,
Sáu mươi năm trước chỉ rành,
Thiên thơ ghi chép, Thiên đình luật ban.
Minh Sư cùng Minh Đường một phái,

Thích, Nho, Đại Đạo hiệp thành Đạo Cao.


Thích, Nho, Đại Đạo hiệp thành Đạo Cao.
Ba mối đạo gồm vào một chỗ,
Đặng dễ phương phổ độ nhơn sanh,
Tam Kỳ Đạo cả dương danh,

CHÁNH GIÁO THÁNH TRUYỀN

CHÁNH GIÁO THÁNH TRUYỀN
--------
 
TỰA CỦA ĐỨC CHÍ TÔN
 


----
 
NGỌC Kinh vừa tiếp sớ đàn trung,
HOÀNG linh Thầy khen biết phục tùng
THƯỢNG giới ban hành lời chỉ dụ,
ĐẾ truyền tô điểm đạo trung dung.
 
----
 
Từ Bàn Cổ sơ khai hỗn độn,
Khí Hư vô hiệp trọn ngôi trời,
Là ngôi Thái Cực tỏ ngời,
Lưỡng nghi sanh hóa phân rời âm dương.
Khí khinh thanh thuần dương nhẹ hỏng,
Hiệp Tiên thiên bay bổng lên trên.
Khí âm trọng trược chẳng bền
Hậu thiên vi địa nên liền lìa ngôi.
Ngôi Tiên thiên phục hồi phẩm vị,
Là ngôi Càn cao quí vô cùng,
Hậu thiên vốn thiệt quả Khôn,
Bảy hai thế giái không trung xây vần.
Thượng giái ba sáu từng vọi vọi,
Cõi Tiên thiên nhuần gội khí dương
Khí âm bẩm thọ hơi dương,
Âm Dương hiệp nhứt kiết tường Đạo sanh.
Sanh Đại Đạo là ngôi Thái Thượng.
Hóa Tam Quang là Nhựt, Nguyệt, Tinh,
Tinh tượng thế giái ba nghìn,
Về quyền Thiên Đế giữ gìn xét xem.
Miền Hạ giái lập thêm bốn bộ,
Thường gọi rằng Tứ Đại Bộ Châu,
Trung giái mấy quả Địa Cầu,
Địa Cầu sáu tám Đạo mầu phát sinh.
Long hoa hội khai minh Đại Đạo,
Là Nhứt kỳ phổ độ chúng sanh,
Nhiên Đăng Cổ Phật dạy rành,
Thái Thượng Đạo Tổ ban hành đạo cao.
Văn Tuyên Vương phụ vào giúp sức,
Đặng chấn hành nhơn lực trần gian,
Đạo khai từ thuở Tam Hoàng,
Sang qua Ngũ Đế đạo tràn khắp phương.
Truyền qua tới nhà Thương bạo ngược,
Nên Đạo Trời không được hiển dương,
Giữa đời Châu, thuở Chiêu Vương,
Đạo Quân giáng xứ Tịnh Vương độ đời.
Long Hoa hội Nhị kỳ phổ độ,
Đạo Phật vào Ấn Độ lưu hành,
Thích Ca Phật Tổ chí thành,
Từ ngôi Thái tử tách mình đi tu.
Quyết dẫn kẻ ám mù buổi tối,
Tìm Đạo mầu chẳng thối chí tâm,
Bồ đề khổ hạnh mấy năm,
Dày công tu luyện mới tầm lý sâu.
Cuộc chung đỉnh bể dâu khổ não,
Quyết dứt đường quả báo luân hồi,
Người trong tứ khổ thương ôi!
Muốn cho thoát khỏi luân hồi trần gian.
Mong dẫn đến Niết bàn Cực lạc,
Khuyên tránh đường lầm lạc gai chông,
Tam qui, ngũ giái cho ròng,
Dạy công tu niệm ngăn phòng tà tinh.
Đạo Thích vừa phát minh bành trướng,
Đạt Ma truyền qua hướng phương Đông,
Trung Huê truyền bá dày công,
Đạo tràn khắp cả Á Đông thịnh hành.
Vì bị việc âm thinh sắc tướng,
Mà Đạo mầu phải vướng gian nan,
Thiên Tào thương kẻ khốn nàn,
Thái Thượng vưng lịnh truyền ban Đạo Trời.
Rằm tháng Hai ra đời cứu thế,
Ra oai linh phổ tế sanh cầm,
Đạo cao sửa chất phàm tâm,
Tam ngươn ngũ lập, đạo thâm dạy truyền.
Tinh, Khí, Thần, Tiên Thiên chí bảo (chí bửu)
Luyện cho tròn hườn đáo cựu nguyên,
Tu chơn luyện tánh chí thiền,
Tuân y ngũ giới xa miền Hậu thiên.
Bởi người thọ chơn truyền ỷ sức,
Dụng phép mầu giành giựt lợi danh,
Khiến nên Đại Đạo tan tành,
Đạo ngưng, không đặng ban hành về sau.
Đời chiến quốc Đạo Nho trổ mặt,
Xuất Thánh nhơn dìu dắt nhơn sanh,
Trung dung Khổng Thánh chỉ rành,
Cốt làm quân tử chí thành là hơn.
Noi Đường, Ngu nghĩa nhơn Văn Võ,
Truyền lục kinh chỉ rõ nhơn luân,
Dạy khuyên xã hội nhơn quần,
Tam cang đạo trọng, ngũ thường chớ quên.
Lễ tôn ti, dưới trên phân biệt,
Nữ cùng nam, hữu biệt vẹn toàn,
Hiếu, trung, tiết, nghĩa phải toan,
Tinh thần cho trọn chớ màng lợi danh.
Vì chung đỉnh dỗ giành trước mắt,
Nên người đời không chắc lòng son,
Năm giềng ba mối không tròn,
Biển trần chìm nổi hãy còn linh đinh.
Nhà Nam xưa hằng gìn phong hóa,
Từ Hồng Bàng đạo hóa dân tâm,
Phật, Tiên, Thần Thánh giáng lâm,
Độ người Việt Quốc ân thâm đức dày,
Tới trào Thần, người suy vật chất,
Mất tinh thần, thánh chất tiêu mòn,
Cang thường, phong hóa không tròn,
Đời càng hỗn độn, người càng cạnh tranh,
Khắp năm châu, nhơn sanh xô đẩy,
Thêm nhiều điều vướng bẫy phồn hoa,
Vong xu nợ nước ơn nhà,
Nghĩa nhơn chẳng trọn, hằng xa luân thường.
Lòng Trời cảm xót thương trần khổ,
Lập Tam kỳ phổ độ dày công,
Đạo Trời thưởng phạt chí công,
Truyền khai Đại Đạo phổ thông khắp cùng.
Trời thương giống Lạc Hồng đồ khổ,
Ra oai linh tế độ nguyên nhân,
Độ dân khỏi bước phong trần,
Hoằng khai Đại Đạo, hưởng phần thiêng liêng.
Qui Tam Giáo thiện duyên ngộ Đạo,
Đạo Tam Kỳ toàn bảo người lành,
Hạ ngươn thương lũ quần sanh,
Tai nàn mạt kiếp Thiên đình đã ghi.
Thầy phải lập Tam Kỳ Đại Đạo,
Rước nguyên nhân hườn đáo cựu ngôi,
Tiên thiên phẩm vị phục hồi,
Tránh nơi bến tục, xa mồi vinh hoa.
Thầy đã xin cùng Tòa Tam Giáo,
Lập Ngũ Chi Đại Đạo độ đời,
Ngũ Chi do gốc Phật Trời,
Minh Sư, Minh Thiện, Minh Đường, Minh Tân.
Thêm Minh Lý lãnh phần truyền đạo,
Ban sám kinh khuyên bảo tu hành,
Sáu mươi năm trước chỉ rành,
Thiên thơ ghi chép, Thiên đình luật ban.
Minh Sư cùng Minh Đường một phái,
Lo chấn hưng chế cải đạo Thiền,
Đạo Thích đã thất kỳ truyền,
Vì chưng tăng chúng không chuyên tu trì.
Làm mất lý vô vi của Phật,
Bày hữu hình vật chất không kiêng,
Rèn lòng tụng niệm, tinh chuyên đạo mầu.
Nhơn cuộc thế cơ cầu gay trở,
Nên Như Lai Phật Tổ truyền ngôn,
Truyền cho Đại Thánh Tề Thiên,
Hiệp cùng Thiết Quả giáng miền Nam Bang.
Cứu nguyên nhơn khai đàng dẫn nẻo,
Truyền Thánh ngôn luật mẹo cứu đời,
Minh Tân Thánh huấn truyền lời,
Chuyên theo Đại học chớ dời lòng son,
Bởi thấy đời vì còn vật chất,
Nên Cái Thiên Cổ Phật giáng trần,
Lập chi Minh Thiện độ dân,
Tùng theo Phật pháp tối tân Đạo mầu.
Y tam ngũ, hồi đầu phục nhứt,
Hiệp Thiên cơ, tùng luật Thiên tào
Vì chưng lắm cuộc phong trào
Mấy chi sợ khó hiệp vào một nơi.
Thầy phải sửa cơ Trời khai đạo,
Nên truyền cho Đạo Tổ giáng trần.
Lập chi Minh Lý khuyến dân,
Truyền ban kinh luật hồng ân cứu đời.
Tới năm Dần phải thời mở Đạo
Nên Tam Kỳ Đại Đạo phát minh,
Tiên thiên một gốc ba nhành,
Thích, Nho, Đại Đạo hiệp thành Đạo Cao.
Ba mối đạo gồm vào một chỗ,
Đặng dễ phương phổ độ nhơn sanh,
Tam Kỳ Đạo cả dương danh,
Là nhờ tâm chí nhiệt thành nguyên nhân.
Khuyên sớm lo tu chuyên qui tắc,
Nên sửa mình dìu dắt thiện chơn,
Lời Thầy khuyên chớ lạt lờn,
Noi gương quân tử nghĩa nhơn vẹn toàn,
Tu nhơn đạo, phải toan cho trọn,
Giữ lòng lành, lỗi mọn chớ làm,
Sá chi quyền quí tước hàm,
Trăng tà, ác xế, mà ham làm gì.
Đạo trung dung thường ghi chạm dạ,
Đạo trung hòa chẳng khá bỏ qua,
Trung là chớ tưởng cao xa,
Cũng đừng bất cập, tính xa tính gần.
Giữ ngay thẳng, bình phân mới đáng,
Trung vốn là gốc lớn đạo người,
Hòa là đạo cả trên đời,
Dĩ hòa vi quí, ghi lòng Thầy răn.
Bực quân tử phải năng tập luyện,
Tư cách tròn, để tiếng muôn đời,
Nhan-Uyên tâm chí phơi phơi,
Đai cơm bầu nước, chẳng rời trung dung.
Quân tử tùng ngũ luân vi bổn,
Trượng phu do hiếu nghĩa vi tiên,
Ngũ luân vốn thiệt năm giềng,
Vua tôi, chồng vợ, cha con, ba hằng.
Thêm anh em, bạn lang, hai mối,
Trọn năm giềng gồm cội nhơn luân,
Vua tôi, đạo trọng muôn phần,
Làm tôi đạt chữ trung thần dương danh.
Lòng từ ái, xót thương lê thứ,
Cũng đồng bào, nắm giữ mối giềng,
Làm con dĩ hiếu vi tiên,
Phụ từ, tử hiếu, nhà yên phước toàn.
Tình chồng vợ, giàu sang chung hưởng,
Lúc nghèo nàn, chớ tưởng bạc đen,
Ham trăng vội bỏ ánh đèn,
Thiệt lòng bội nghĩa tiếng hèn về sau.
Lòng tiết liệt, chớ xao lãng dạ,
Khắn trung trinh, toàn giá hạnh mình,
Anh em cốt nhục chi tình,
Thượng hòa hạ mục, gia đình yên vui.
Chớ vì lợi, phanh phui gan ruột,
Chớ vì danh, biến cuộc gia đình,
Bạn bè giao kết chí tình,
Giữ sao tròn nghĩa trung bình mới ngoan.
Đừng ấm lạnh nghèo sang chia rẽ,
Tín nghĩa tròn, nặng nhẹ chớ sờn,
Ngũ luân gốc đạo Thánh nhơn,
Khuyên con chớ khá lạt lờn phui pha.
Đạo Nho vốn đạo nhà khi trước,
Kính tổ tiên mới được ơn lành,
Trung dung khuyên dạy đành rành,
Muốn nên quân tử chí thành kiên gan.
Phải bền chí, lo toan sửa nết,
Hạnh nhu hòa trước hết răn lòng,
Tồn tâm dưỡng tánh đặng công,
Lành ưa, dữ lánh mới mong nên người.
Thường xét mình sớm trưa cùng tối,
Biết lỗi thì tự hối ăn năn,
Trí nhơn dõng, mới gọi rằng,
Là người quân tử đạo hằng tinh anh.
Trí là chẳng cần danh lợi hão,
Tùng gương Trời giữ đạo thẳng ngay,
Đợi thời gặp hội rồng mây,
Đức tài chừng ấy phô bày tranh công.
Công danh ráng trả xong nợ thế,
Tế độ người qua bể trầm luân,
Nhơn là biết nghĩa, hiệp quần,
Thương người đồng loại gian truân khốn nàn.
Vớt đồng bào lầm than khổ não,
Lòng chí thành khuyến đạo độ đời,
Dõng là mật trải gan phơi,
Vẹn toàn nghĩa vụ, chẳng rời chí tâm.
Đủ nghị lực không lầm đường vạy,
Chí hộc hồng, phi ngãi chẳng tùng,
Kiên cường, khắn chí anh hùng,
Trải tâm tuấn kiệt, thỉ chung vẹn toàn.
Không vì kẻ giàu sang khuất phục,
Chẳng vì người nghèo cực mà khi,
Sợ câu kiến nghĩa bất vi,
Xử kỷ tiếp vật, thường ghi vào lòng.
Hằng chuyên lo thuần phong mỹ tục,
Đạo hạnh tròn, thẳng mực cang thường,
Thầy thương sanh chúng lạc đường,
Nên dìu dẫn lối, vẹt đường gai chông.
Chỉ rành đạo trung dung quân tử,
Đặng các con cư xử độ đời,
Trước sau chớ khá đổi dời,
Trau giồi tánh chất, nhớ lời Thầy khuyên.
Đời, Đạo ráng vẹn tuyền hai mối,
Tháng ngày lo tu khối tinh thần,
Mới mong thoát khỏi bể trần,
Đạo thành, có thuở hưởng phần thanh cao.
Hiệp Tam Giáo gồm vào một mối,
Khuyên chúng sanh sám hối tu hành,
Thầy vì thương lũ quần sanh,
Hoằng khai Đại Đạo ba nhành qui nguyên.
Cho Tam Trấn thay quyền Tam Giáo,
Phật Quan Âm, Thích Đạo thế quyền,
Thái Bạch thay mặt Đạo Tiên.
Tam kỳ phổ độ lãnh quyền Giáo Tông.
Đạo Nho, giao Quan Công Đại Đế,
Ra oai linh phổ tế nhơn sanh,
Thánh truyền Thầy đã chỉ rành,
Vì sao Tam Trấn quyền hành Tam Tông.
Phật Quan Âm có lòng cầu khẩn,
Bố từ bi độ tận chúng sanh,
Tấm gương từ ái rỡ ràng,
Đặng quyền sửa trị đạo Thoàn khai môn.
Độ sanh chúng dập dồn nghiệt quả,
Cứu nguyên nhân kiếp đọa thoát vòng,
Thái Bạch lãnh chức Giáo Tông,
Thế quyền của đấng Chí Tôn răn đời.
Đặng thọ lịnh oai Trời sửa trị,
Vì có công xét kỹ dữ lành,
Linh Tiêu rực rỡ oai danh,
Giáng trần thay thế quyền hành Đạo Tiên.
Quan Thánh Đế cầm quyền Đạo Thánh,
Vì khi xưa lòng chánh dạ ngay,
Trung dung ghi nhớ hằng ngày,
Luận ngữ, Mạnh tử, không phai tấc lòng.
Minh Thánh Kinh, dày công khuyến thế,
Dạy đạo người: hiếu, đễ, tín, trung,
Độ đời công đức muôn trùng,
Nêu gương soi đạo trung dung sửa đời.
Đời hỗn độn đổi dời xảo trá,
Trời Phật toan cải hóa nhơn tâm,
Thánh Tiên tuân lịnh giáng lâm,
Độ người căn cội lỗi lầm xưa nay.
Mau hồi tỉnh mau quày trở bước
Lo tu thân tác phước cho cần,
Đại học dạy mối tu thân,
Khuyên con bền chí, siêng cần tinh chuyên.
Đứng Trượng phu ba giềng cho trọn,
Khá răn lòng, lỗi mọn chớ làm,
Giữ sao cho đặng chánh tâm,
Tập thành ý tốt, khỏi lâm bảy tình.
Muốn trí tri, phải rành vật chất,
Cách vật rành, hiểu luật tu thân,
Mới mong độ dẫn khách trần,
Mới mong tích đức tu nhân vẹn toàn.
Thành nhơn mới rỡ ràng gia đạo,
Mới có phương bổ báo ơn dày,
Mới mong tranh đức đua tài,
Độ người khỏi chốn trần ai khốn nàn.
Muốn minh đức tân dân phải ráng,
Ráng làm sao cho rạng danh hiền,
Gắng công chí thiện vẹn tuyền,
Có văn, có chất, phỉ nguyền nam nhi.
Tu nhân đạo phải suy xét kỹ,
Phải tùng theo chơn lý độ đời,
Gắng công tùng lịnh Phật Trời,
Thành công đắc quả, thảnh thơi linh hồn.
Khuyên các con tâm tồn nhẫn nại,
Ráng chuyên cần nhơn ngãi cho tròn,
Đảo điên, tạc một lòng son,
Cạn lời nhắn nhủ, khuyên con ghi lòng.
Ráng bền chí tới Long Hoa hội,
Mở trường thi phước tội cân phân,
Đức cao mới đặng hưởng phần,
Kiên tâm bĩ ngạn dò lần bước qua.
Lời Thánh huấn thiết tha ráng nhớ,
Nhớ tính xong mối nợ trần ai,
Thương ôi bể khổ lạc loài!
Ngày Tiên tháng Phật rộng dài bớ con!

Sứ mạng Tận độ

"Sứ mạng Tận độ là cái sứ mạng chánh của quốc độ Việt Nam. Ðược một sứ mạng hy hữu như vậy dầu rằng một quốc độ tiểu nhược nhưng hậu lai sẽ tràn đầy thắng phước, công đức dân tộc ấy như nước biển chẳng lường! Một diễm phúc tối cao được Bề Trên chọn cuộc khai sáng cơ nghi ÐẠI ÐẠO ngay trong thời pháp mạt...."
Quan Âm Bồ Tát

ZEN VA CAO DAI

THIỀN THEO ĐỨC ĐÔNG PHƯƠNG CHƯỞNG QUẢN

Tám mươi mốt nẻo vượt lần qua
Định TÁNH tu TÂM chế ngự tà
MỞ cửa THIÊN MÔN soi tội phước
Mới hay CỰC LẠC ấy quê nhà
Thiền theo Đức ĐÔNG PHƯƠNG CHƯỞNG QUẢN có hai cấp. Ở cấp I thì tập An Thần, Định Thần, Trụ Thần, Mở Khiếu Huyền Quang và Điều Tức. Ở cấp II thì tập Vận Chu Thiên.
ĐỆ NHẤT CẤP: Đợt I (Tập Trụ thần, Mở khiếu Huyền Quang và Điều Tức)
- Đệ Nhất Cửu = Tập AN THẦN
- Đệ Nhị Cửu = Tập ĐỊNH THẦN
- Đệ Tam Cửu = Tập TR Ụ THẦN
- Đệ Tứ Cửu = Tập mở HUYỀN QUAN KHIẾU
- Đệ Ngũ Cửu = Tập ĐIỀU TỨC
- Đệ Lục Cửu ôn từ Đệ Nhứt đến Đệ Ngũ
 Mỗi ngày (4 thời) một pháp, thay đổi nhau.
- Đệ Thất Cửu = Tiếp tục tập ĐIỀU TỨC
- Đệ Bát Cửu = Tiếp tục tập ĐIỀU TỨC
- Đệ Cửu Cửu = ôn tập từ Đệ Nhứt đến Đệ Bát Cửu
 Mỗi ngày (4 thời) một pháp, thay đổi nhau.
ĐỆ NHỊ CẤP: Đợt II (Vận Châu Thiên)
- Đệ Nhứt Cửu = Tập vận chu thiên 36 vòng
- Đệ Nhị Cửu = Tập vận chu thiên 72 vòng
- Đệ Tam Cửu = Tập vận chu thiên 144 vòng
- Đệ Tứ Cửu = Tập vận chu thiên = 288 vòng
- Đệ Ngũ Cửu = Tập vận chu thiên = vòng
- Đệ Lục Cửu đến Đệ Cửu Cửu = Vận chu thiên 360 vòng.
* ĐIỀU KIỆN: Người tu Thiền theo phương pháp nầy phải hội các điều kiện sau đây:
1. Chánh thức nhập môn và lập thệ tại một Thánh Thất.
2. Giữ ngũ giới cấm và tứ đại điều qui.
3. Ăn chay ít nhất là 10 ngày.
4. Bớt lần việc thế, đoạn lần Thất tình, Lục dục, Tam độc (Tham, Sân, Si) cho đến khi Tâm không (không Lục Dục, Thất tình) .
* CHỈ TỊNH LUYỆN MỘT PHƯƠNG PHÁP:
Tu thiền theo nhiều pháp sẽ làm hại sức khỏe, có khi hại mạng, nên chọn một phương pháp mà thôi. Phương pháp tu thiền này là của Đức Đông Phương Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài giáng điển khẩu truyền cho nam nữ Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Việt Nam ngày 1 tháng 5 Bính Ngọ (1966). Tín đồ nào muốn thọ pháp này phải bạch cầu xin Đức Tôn Sư Đông Phương chấp thuận mới được.
* TỊNH LUYỆN NHIỀU ĐỢT VÀ ĐÚNG GIỜ:
Mỗi đợt gọi là Cửu Cửu gồm 9 x 9 = 81 ngày. Mỗi ngày luyện theo tứ thời: TÝ (12 giờ đêm), NGỌ (12 giờ trưa), MẸO (6 giờ sáng), DẬU (6 giờ chiều). Tịnh luyện phải đúng giờ và có ăn chay 10 ngày trở lên mới được .
ĐỆ NHỨT CẤP hay Đợt I
TỊNH ĐỊNH TRỤ THẦN.
I. Đệ Nhút Cửu = Tập AN THẨN
1. Cách Ngồi:
 * Ngồi mặt ngó hướng Đông Nam.
 * Ngồi trên chiếu, gạch hay ván đừng ngồi trên nệm gòn nóng, bịt hơi, phải ngồi trên vật thông hơi).
 * Ngồi bán hay kiết già gót MẶT để ngay dưới rún, cách rún 1 tấc 2 phân là huyệt Tinh Hải (Prostate), gót trái để lên trên gót mặt. Thúc gót sát bụng. Hai bàn chân để lọt vô 2 kẽ ngay đầu gối.
 * Lưng: thẳng như cây thước, đầu ngay ngắn, cặp mắt mở hí hí dòm xuống hướng chót mũi.
 * Tay: Bàn tay trái bắt ấn Tý, rồi nắm lại, bàn tay mặt bao bên ngoài với ngón cái bấm vào chân ngón trỏ của bàn tay trái.
 + Xá và niệm:
“Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát” (3 lần).
“Nam Mô Đông Phương Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài” (3 lần).
 + Rồi bàn tay trái lật ngửa, để lên trên bàn tay mặt cũng lật ngửa. Hai bàn tay đều bắt ấn Tý. Hai cánh tay cặp sát bên hông.
2. Niệm chú:
 * Đọc bài Kim Quang Chú (3 lần).
Bài KIM QUANG CHÚ gồm có 14 hàng, 114 chữ ca tụng oai lực của Thần Kim Quang và cầu xin Thần hộ mạng và gìn giữ Chơn Thần để trong khi Thiền Định khỏi bị khuấy rối.
3. Vẽ bùa Tam Thiên:
 * Nhằm để trấn Thần hầu khỏi bị phá rối khi Thiền Định. Nín thở định thần, lấy ngón tay giữa của bàn tay mặt vẽ ngay trước tam tinh bùa TAM THIÊN. Mỗi khi vẽ xong một nét thì niệm một chữ của danh Thầy: Nam Mô Cao Đài Tiên ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát (là vẽ xong ba chữ Thiên).
4. Niệm Lục Tự Chôn Ngôn: (3 lần).
 * Án Ma Ni Bát Rị Hồng.
5. HÔ HẤP:
 * Chuẩn bị
- Miệng ngậm, răng khít.
- Mắt mở hí hí, nhìn hướng chót mũi.
- Tưởng đến Đức Đại Từ Phụ và Đức Diêu Trì Kim Mẫu.
- Giữ tâm không (không tạp niệm, vọng niệm).
 * Cách thở:
- Tập thở đều, nhẹ, dài không mau không chậm.
- Hít hơi vô chậm rãi từ mũi tới rún và niệm thầm: “NAM MÔ CAO hay NAM MÔ A”.
- Thở hơi ra chậm rãi từ rún đến mũi và niệm thầm: “ĐÀI TIÊN ÔNG hay DI ĐÀ PHẬT”.
 Làm như vậy ba lần để điều hòa hơi thở.
- Tiếp tục thở như vậy và để tâm không. Nếu phóng tâm (tự nhiên nghĩ đến một việc gì hay người nào) thì phải thở và niệm trở lại như trên. Mỗi lần tập thở để AN THẦN là 15 phút rồi lần lần tiến lên nửa giờ cho mỗi thời Tịnh trong suốt 9 ngày.
II. Đệ Nhị Cửu = Tập ĐỊNH THẨN
Tọa thiền 5 phút tức là ngồi yên thở nhẹ dài và sâu. Tịnh AN THẦN (như Đệ Nhứt Cửu) lần lần đến chỗ ĐỊNH THẦN nhờ THẦN AN ĐƯỢC LÂU. Mỗi thời định là từ nửa giờ đến một giờ trong suốt 9 ngày.
III. Đệ Tam Cửu = Tập TRỤ THẨN
 * Ngồi tọa Thiền như trước, mặt ngó hướng Đông Nam.
 * Trước mặt để 1 cái Thiên Nhãn nhỏ ngang tầm mắt (không vẽ bùa TAM THIÊN, không đọc chú Lục Tự Chôn Ngôn).
 * Đọc Kim Quang Chú (3 lần).
 * Đọc chú Định Tâm (3 lần).
Chú Định Tâm gồm có 4 câu 28 chữ, cầu nguyện các đấng Thiêng Liêng phò hộ độ trì cho việc luyện Đạo có kết quả.
 * Hai mắt ngó vào Thiên Nhãn rán đừng nháy mắt. Ban đầu 15  phút sau lần đến nửa giờ.
 * NGÓ BÌNH THƯỜNG đừng tập trung hay ngước mắt lên mà hại mắt, cũng đừng ngó xuống e buồn ngủ. Nếu mỏi mắt quá thì nháy 1 cái, rồi tiếp tục ngó vào Thiên Nhãn.
IV. Đệ Tứ Cửu = Tập mở HUYỀN QUANG KHIẾU
 * Ngồi bán hay kiết già
 * Đọc chú KIM QUANG (3 lần).
 * Đọc chú ĐỊNH TÂM (3 lần).
 * Đọc xong, ngồi thẳng lưng, đầu ngay ngắn.
 * Đoạn tam nghiệp: Nhắm mắt, đừng nghe (như bịt lỗ tai vậy), miệng ngậm răng khít đầu lưỡi chạm ổ gà.
 * Tay giữ ấn: Hai bàn tay lật ngửa đặt sát bụng, cùng bắt ấn Tý. Bàn tay trái đặt trên bàn tay mặt. Hai cánh tay cặp sát bên hông.
 * Gom thần, trụ ý tại Hà Đào Thành ở tại đỉnh đầu hai ngay xoáy giữa, trong khi đó thở nhẹ, đều, dài và sâu .
 * Mỗi thời tịnh 15 phút, lần lần nửa giờ. Nếu nghe đầu nặng hay nhức đầu thì lấy 2 bàn tay vuốt từ trán lên xoáy cho tới ót nhiều lần thì hết.
V. Đệ Ngũ Cửu = Tập ĐIỀU TỨC
 * Tĩnh tọa như trước.
 * Đọc chú KIM QUANG (3 lần) và chú ĐỊNH TÂM (3 lần).
 * Ngồi thật thẳng lưng, nới lỏng lưng quần, mặc áo rộng để máu dễ lưu thông.
 * Đoạn tam nghiệp: Nhắm mắt, đừng nghe, miệng ngậm răng khít, đầu lưỡi chạm ổ gà.
 * Thở thật nhẹ, đều, dài và sâu đúng 36 lần. Hít vô và thở ra thì tính là một. Mỗi lần hít vô thì nhíu hậu môn rồi mới thở ra. Muốn thở nhiều hơn 36 lần cũng được.
VI. Đệ Lục Cửu = Ôn Tập
 * Ôn lại các pháp từ Đệ Nhứt Cửu đến Đệ Ngũ Cửu.
 * Mỗi ngày luyện một pháp, luân phiên đủ 9 ngày.
VII. Đệ Thất Cửu = Tiếp tục ĐIỀU TỨC
 * Tĩnh tọa
 * Đọc chú KIM QUANG (3 lần) và chú ĐỊNH TÂM (3 lần).
 * Mắt nhìn hướng chót mũi, tay giữ ấn và đoạn tam nghiệp.
 * Thở thật đều và nhẹ, mỗi lần hít vô thì nhớ nhíu hậu môn rồi mới thở ra. Hô hấp cho được 72 lần trong 3 phút tức là 1 phút 24 lần. (Một người mạnh khỏe bình thường có nhịp thở từ 10-24 nhịp 1 phút).
VIII. Đệ Bát Cửu = Tiếp tục ĐIỀU TỨC
 * Làm y như trước nhưng HÔ Hấp tăng lên cho đủ 108 lần, mỗi phút 24 lần.
IX. Đệ Cửu Cửu = Ôn tập từ đầu đến chót
 * Mỗi ngày (4 thời) luyện một pháp.
ĐỆ NHỊ CẤP hay ĐỢT II
Tập vận Chu Thiên
* Điều kiện: Trường chay. (Nếu thập Trai thì chỉ TỊNH, ĐỊNH, TRỤ THẦN)
Công phu là để tu tập cho sự tiến hóa của CHƠN THẦN, gìn giữ cho TÁNH MẠNG nên mỗi khi đến giờ công phu, người tu tịnh phải tịnh định 15 phút để cho CHỦ NHÂN ÔNG phát hiện hầu chữa trị các TÀ DỤC để duy trì CHÁNH TÍN, khỏi bị sa ngã lầm lạc. Có như vậy thì Chánh Đạo mới có thể sáng tỏ được. Còn về căn bịnh thì là việc bình thường đừng lo sợ mà căn bịnh phát tác Người tu tịnh cần nhớ: Bốn mùa tuy có phân định nhưng cũng còn bất trắc phong vân thì tấm thân tứ đại làm sao mà khỏi họa phước.
I. Đệ Nhất Cửu: Tập vận CHU THIÊN 36 VÒNG.
1. Tọa thiền.
2. Tịnh Hư Vô 15 phút.
 (1. và 2.: Tâm yên, trí lặng, vạn duyên đốn tuyệt, ngũ quan bế, hít thở thật nhẹ, chậm rãi, liên tục dài và sâu).
3. Hai bàn tay lật ngửa đặt sát bụng cùng bắt ấn Tý. Bàn tay trái đặt trên bàn tay mặt.
4. Đọc KIM QUANG CHÚ (3 lần).
5. Vừa NÍN THỞ vừa NIỆM DANH THẦY, vừa tưởng tượng lấy ngón tay giữa của bàn tay mặt họa PHÙ TAM THIÊN ở trước mặt.
6. Cong lưỡi lên ổ gà, miệng ngậm răng khít, mắt nhìn hướng chót mũi.
7. Vận CHÂU THIÊN: Hít Vô nhẹ và dài, dùng tư tưởng đưa hơi thở từ HUYỀN QUANG KHIẾU theo mạch NHÂM (ở trước ngực) -> đến Rún -> HẬU MÔN hay HẠ THƯỚC KIỀU (nhíu hậu môn kẻo hơi thở theo hậu môn vọt thẳng ra ngoài thì hỏng) -> chuyển đến huyệt VĨ LƯ, nín hơi một cái, rồi từ từ thở ra cũng nhè nhẹ theo đường xương sống (mạch Đốc) -> đến NÊ HƯỜN CUNG -> HUYỀN QUANG KHIẾU.
Đó là một vòng châu thiên. Thực hiện 36 vòng Châu Thiên mới nghỉ. Nhớ hít vô bao nhiêu thì thở ra cho thiệt hết nếu không bụng sẽ càng ngày càng lớn.
8. XẢ: xoa hai tay nóng rồi úp lên mặt và bụng.
9. Nằm theo ngủ pháp.
II. Đệ Nhị Cửu:
Tập vận Có THIÊN 72 vòng. Từ Đệ Nhị đến Đệ Cửu, dẫn hơi thở chạy đều không ngừng đâu hết.
III. Đệ Tam Cửu:
Tập vận CHU THIÊN 144 vòng.
IV. Đệ Tứ Cửu:
Tập vận CHU THIÊN 288 vòng.
V. Đệ Ngũ Cửu:
Tập vận CHU THIÊN 360 vòng.
VI. - IX. Đệ Lục Cửu đến Đệ Cửu Cửu:
Vẫn tập vận CHU THIÊN 360 vòng.
Khi đã vận chu thiên thì nên vận liên tục, tứ thời càng tốt, vì ngưng vận thì KHÍ tan.
Đức ĐÔNG PHƯƠNG CHƯỞNG QUẢN có dặn: Phải bền chí luyện Tứ Thời liên tục thì sẽ thấy hiệu nghiệm và huyền diệu.
TÍ: Tấn dương hỏa hay thu lấy khí Dương đang phát triển trong vũ trụ.
NGỌ: Thối âm phù hay thu lấy khí âm đang lên mà giảm khí âm trong cơ thể vì cực âm thì sinh Dương.
MẸO, DẬU: Giờ Mộc Dục nghĩa là Đại Tịnh để lóng được lưu thanh, kiểm điểm sám hối để giảm bớt dục niệm.
Chánh pháp là TỊNH TÂM. TÂM TỊNH thì nhơn dục sẽ lặng yên và lý Đạo sẽ thông suốt. Khi TÂM ĐỊNH thì THẦN TRỤ và sẽ có ẤN CHỨNG: Đó là thất tình lục dục giảm lần hoặc uế trược châu thân bị tẩy trừ, chân khí trở nên thanh thuần nên rất sáng suốt. Bước vào Đệ Nhị Cấp thì có thể bảo vệ châu thân chống được độc khí lan tràn và hòa nhập với vũ trụ. Muốn ĐỊNH TÂM thì người tu tịnh phải TÁNH MẠNG SONG TU nghĩa là TU TÁNH và LUYỆN MẠNG.
- TU TÁNH: tức là sửa những tánh xấu, những tánh làm phiền người và làm khổ mình như sửa tánh độc tài thành tánh dung hòa tức là biết lắng nghe ý kiến của người khác, sửa tánh vụn vặt bươi móc thành tánh bao dung và tha thứ, sửa tánh ích kỷ thành tánh vị tha, sửa tánh cố chấp thành tánh hỉ xả...
"Những tánh xấu thường do nhơn dục sanh ra mà bổn tánh của con người ở phía sau nhơn dục. Cho nên kẻ học Đạo muốn giác ngộ bổn tánh thì phải hồi hướng về nội giới, vượt qua những hình danh, sắc tướng, phiền não, vượt qua và vượt qua mãi đến cõi lòng chưa phát động thì sẽ thấy được bổn tánh...”
- LUYỆN MẠNG: là rèn luyện bổn mạng tức là bản thân để có một đời sống lành mạnh và đạo đức. Hằng ngày nghiêm túc gìn giữ giới luật để định Ý và kềm TÂM.
“... Tánh Mạng song tu có khó chi
Tâm phàm Tịnh, Định lố huyền vi
Nhãn quan, Nhĩ thính khai Trung Phủ
Sẽ thấy trường sanh chẳng hạn kỳ...”

Đức ĐÔNG PHƯƠNG CHƯỞNG QUẢN